Th 2, 07/09/2026 | 20:07 CH
Cục Sở hữu trí tuệ tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị
Sáng ngày 03/9/2026, Đảng bộ Cục Sở hữu trí tuệ tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị. Hội nghị do đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì, chỉ đạo được tổ chức trực tiếp (tại điểm cầu Trung ương – Phòng họp Diên Hồng, tòa nhà Quốc hội, số 01 đường Độc Lập, Ba Đình, Hà Nội) kết hợp trực tuyến đến các điểm cầu tại các ban, bộ, ngành, đơn vị Trung ương, các đảng uỷ trực thuộc Trung ương, các tỉnh uỷ, thành uỷ và điểm cầu cấp xã.
Dự Hội nghị tại điểm cầu trụ sở Cục Sở hữu trí tuệ có đồng chí Lưu Hoàng Long, Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ cùng toàn thể đảng viên trong Đảng bộ Cục Sở hữu trí tuệ.
Mở đầu Hội nghị, các đồng chí đảng viên được xem phóng sự tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII. Sau đó các đồng chí đảng việc được nghe các chuyên đề: “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” và chuyên đề toàn khóa “Những nội dung cơ bản về học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới của đất nước”; “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới” do đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương trình bày.
Những nội dung cốt lõi của Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” (Chỉ thị 07). Đây là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, định hình phương thức hành động và khơi nguồn động lực tinh thần cho toàn hệ thống chính trị bước vào giai đoạn cách mạng mới. Việc quán triệt Chỉ thị 07 và việc truyền đạt Chuyên đề toàn khóa được thực hiện lồng ghép trong một nội dung thống nhất. Chuyên đề toàn khóa chính là sự triển khai đầy đủ tinh thần và nội dung của Chỉ thị; tách làm hai sẽ trùng lặp, kéo dài mà không tăng thêm nhận thức.
Những nội dung cơ bản của Chỉ thị 07 thông qua Chuyên đề toàn khóa về “Học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” gồm 3 phần trọng tâm, có mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ với nhau đó là:
(1) Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh: Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới, thay thế Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 và Kết luận số 01 KL/TW ngày 18/5/2021 dựa trên bốn căn cứ;
(2) Cội nguồn hình thành và những nội dung cốt lõi của tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; giá trị trong giai đoạn phát triển mới: Chuyên đề toàn khóa làm rõ cội nguồn hình thành (đó là sự kết tinh của ba mạch nguồn lớn), những nội dung cốt lõi (với bốn thành tố cốt lõi) và giá trị của di sản Hồ Chí Minh theo một cách tiếp cận mới và;
(3) Yêu cầu đặt ra và giải pháp đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 – 2030: Trước những biến động nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới và đòi hỏi tự thân của cách mạng nước nhà, Chuyên đề toàn khóa nêu rõ bối cảnh mới và các yêu cầu đặt ra giai đoạn 2026 - 2030; xác lập hệ thống giải pháp tập trung vào 4 nhóm chủ yếu, tác động trực tiếp vào các trụ cột phát triển quốc gia. Đặc biệt, quán triệt ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, toàn bộ hệ thống giải pháp giai đoạn 2026 - 2030 phải nhất quán một định hướng lớn: tạo nền tảng tinh thần vững chắc, tạo động lực thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững; trọng tâm cốt lõi là xây dựng con người mới và phát triển nền văn hóa mới đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên vươn mình.
Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới (Nghị quyết 25). Đây là lần đầu tiên công tác tư tưởng của Đảng được xác lập ở tầm một chiến lược tổng thể, dài hạn, bằng một nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị, với hệ mục tiêu, chỉ tiêu, nguồn lực và trách nhiệm cụ thể. Chuyên đề gồm 04 nội dung chính:
Một là, sự cần thiết ban hành Nghị quyết (được khái quát bằng 04 nội dung) và bối cảnh tổng thể;
Hai là, định vị tầm mức của Nghị quyết trong tổng thể các nghị quyết của Đảng (được khái quát bằng 04 nội dung);
Ba là, những nội dung cốt lõi (được khái quát bằng 03 nội dung, đặc biệt với nhóm nội dung thứ 3 bao gồm 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó có 3 nhóm đột phá);
Bốn là, các giải pháp tổ chức triển khai thực hiện (việc tổ chức thực hiện quán triệt nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền).
Ngay sau bài trình bày của đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Hội nghị được nghe đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương trình bày chuyên đề “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới”. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết 24) được ban hành trên cơ sở sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 14 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Nghị quyết lần này có yêu cầu rộng hơn và cao hơn. Nếu như trước đây nhấn mạnh khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, thì lần này Bộ Chính trị đặt vấn đề từ chính phẩm chất và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên: Đã là cán bộ, đảng viên thì phải tiên phong, gương mẫu; phải có tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Nội dung cụ thể của Nghị quyết 24 gồm 4 quan điểm, 4 mục tiêu, 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Trong đó nhấn mạnh một số vấn đề cần thống nhất về nhận thức và hành động.
Thứ nhất, cần nhận thức đúng vì sao Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết này.
Thứ hai, nhận thức đầy đủ những nội dung mới, những bước phát triển nâng tầm của Nghị quyết 24 so với Kết luận 14, tập trung 05 nội dung:
(1) Nghị quyết 24 đã có bước chuyển từ khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm sang xác lập tính tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm hành động là chuẩn mực của cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới.
(2) Chuyển từ bảo vệ cán bộ sau khi rủi ro đã xảy ra sang kiến tạo môi trường để cán bộ có thể dấn thân hành động và có trách nhiệm ngay từ đầu.
(3) Từ đặt trọng tâm vào trách nhiệm của cá nhân cán bộ sang xác lập trách nhiệm đồng bộ của cán bộ, tổ chức và người đứng đầu.
(4) Từ khuyến khích, bảo vệ cán bộ như một cơ chế riêng lẻ trở thành một nội dung xuyên suốt trong công tác cán bộ và quản trị quốc gia hiện đại.
(5) Từ giải quyết tâm lý “sợ sai, sợ trách nhiệm” sang hình thành một văn hóa hành động, năng lực thực thi mới trong Đảng và hệ thống chính trị.
Thứ ba, phải hiểu đầy đủ hai mặt của vấn đề: vừa bảo vệ người dám làm, vừa kiên quyết xử lý người không chịu làm.
Từ việc thống nhất nhận thức những nội dung quan trọng trong Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc đã nhấn mạnh 5 yêu cầu lớn trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết:
Một là, trước hết phải tạo chuyển biến về trách nhiệm hành động, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu;
Hai là, phải tạo được môi trường và thể chế để người muốn làm có thể làm;
Ba là, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhưng phải gắn chặt với quản trị rủi ro, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình;
Bốn là, bảo vệ cán bộ phải thực chất, nhưng ranh giới bảo vệ phải thật rõ;
Năm là, phải đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ; lấy sản phẩm, kết quả và hiệu quả thực thi làm thước đo chủ yếu.
Sau đó, Hội nghị được nghe đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trình bày chuyên đề “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài”. Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (Nghị quyết 23) là một quyết sách lớn của Đảng, có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi mới và sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời cụ thể hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đại hội XIV về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Chuyên đề liên quan đến Nghị quyết 23 được trình bày với 04 nội dung chính, bao gồm: (1) Bối cảnh và những yêu cầu mới đặt ra đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài; (2) Quan điểm chỉ đạo (4 quan điểm chỉ đạo), mục tiêu (3 mục tiêu lớn) và một số điểm mới trọng tâm của Nghị quyết; (3) Nhiệm vụ và giải pháp (7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp); (4) Một số yêu cầu về tổ chức thực hiện nhằm đưa Nghị quyết vào cuộc sống.
Khái quát một cách ngắn gọn, có thể thấy tinh thần cốt lõi của Nghị quyết 23 là nâng tầm vị trí của cộng đồng, đổi mới tư duy và phương thức tổ chức thực hiện. Điểm quan trọng là từng chủ trương phải được chuyển hóa thành trách nhiệm cụ thể, cơ chế cụ thể và sản phẩm cụ thể. Một số việc cần tập trung triển khai ngay sau Hội nghị:
Một là, Bộ Ngoại giao sẽ trình Chính phủ Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 23, xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, tiến độ và nguồn lực của từng cơ quan, địa phương;
Hai là, rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách và quy định pháp luật, tập trung bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài và tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào tham gia vào quá trình phát triển đất nước;
Ba là, xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài, từng bước xác định rõ ở đâu có chuyên gia, năng lực, mạng lưới nào và khả năng kết nối với nhu cầu trong nước;
Bốn là, xây dựng danh mục nhu cầu về chuyên gia, công nghệ, đầu tư và các nguồn lực khác của các bộ, ngành, địa phương, qua đó chuyển từ tư duy “tìm nguồn lực” sang “kết nối nguồn lực với nhu cầu”;
Năm là, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện công tác người Việt Nam ở nước ngoài, chuyển từ đánh giá số lượng hoạt động sang đánh giá hiệu quả và những chuyển biến thực chất, có thể đo lường và kiểm chứng.
Tiếp theo Hội nghị, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày chuyên đề “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới”. Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị khóa XIV về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới (Nghị quyết 27) được ban hành thay thế các Nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII (Nghị quyết số 11-NQ/TW, 13-NQ/TW, 23-NQ/TW, 24-NQ/TW, 26-NQ/TW, 30-NQ/TW) thể hiện tư duy mới, tầm nhìn mới về tổ chức lại không gian phát triển quốc gia và phát triển 06 vùng kinh tế - xã hội nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và hướng tới 02 mục tiêu kép 100 năm của Đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
Chuyên đề về “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới” gồm 05 phần:
(1) Sự cần thiết ban hành Nghị quyết;
(2) Quan điểm chỉ đạo (3 quan điểm chỉ đạo);
(3) Mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể (Nghị quyết đã đề ra mục tiêu và 22 chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 cho từng vùng, phù hợp với tiềm năng, lợi thế so sánh, thực tiễn phát triển và để các vùng đóng góp vào sự phát triển chung của cả nước);
(4) Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm (10 nhóm nhiệm vụ giải pháp trọng tâm);
(5) Tổ chức thực hiện.
Sau hơn 3 năm thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế - xã hội, nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của phát triển vùng được nâng cao; liên kết vùng được tăng cường; tiềm năng, lợi thế của địa phương và vùng từng bước phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, phát triển các vùng chưa đạt mục tiêu đề ra; chưa khơi thông và phát huy hiệu quả các nguồn lực xã hội; quy hoạch còn chồng lấn, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết; kết cấu hạ tầng vẫn là một điểm nghẽn; hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành phát triển chậm; một số đô thị lớn, cực tăng trưởng chưa phát huy được vai trò hạt nhân, lan tỏa; liên kết vùng còn yếu và chưa hiệu quả.
Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, và phát huy hơn nữa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, thúc đẩy liên kết và khai thác hiệu quả không gian phát triển mới của các địa phương và vùng sau sắp xếp đơn vị hành chính, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đảm bảo các địa phương, các vùng và cả nước được kết nối chặt chẽ, thông suốt; Bộ Chính trị khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.
Cuối cùng, đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trình bày chuyên đề “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới”. Nội dung cốt lõi, chủ yếu của Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị khóa XIV về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết 26) gồm 3 phần chính: (1) Thực tiễn và yêu cầu đặt ra về phát triển du lịch Việt Nam trong kỷ nguyên mới; (2) Những vấn đề mới về quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về phát triển du lịch; (3) Về tổ chức thực hiện.
Trên cơ sở đánh giá kết quả của gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 08 NQ/TW của Bộ Chính trị, sự cần thiết và yêu cầu đặt ra, kế thừa các thành tựu đạt được, đổi mới, phát triển tư duy, tầm nhìn mới về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, Nghị quyết 26 đã xác lập những quan điểm, mục tiêu, định hướng cốt lõi cho phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới:
(1) Về quan điểm chỉ đạo: Nghị quyết xác định 5 quan điểm mang tính đột phá:
(2) Về mục tiêu: Nghị quyết chỉ rõ định hướng phát triển và đích đến của du lịch Việt Nam trong kỷ nguyên mới:
Đến năm 2030: Du lịch đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP; đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 80 - 90 tỷ USD. Hình thành 3 cực tăng trưởng du lịch là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, 10 trung tâm du lịch trọng điểm, 20 khu du lịch quốc gia; xây dựng được 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh quốc tế. Tạo ra khoảng 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp;
Đến năm 2045: Du lịch đóng góp trực tiếp 14 - 15% GDP, đón 70 triệu lượt khách quốc tế, thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới; là điểm đến du lịch hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam.
(3) Về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: Nghị quyết nhấn mạnh 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, trọng tâm.
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao sự chuẩn bị công phu nghiêm túc của các cơ quan và tinh thần trách nhiệm của toàn thể Hội nghị. Cả 5 Nghị quyết, 1 Chỉ thị hợp thành một chỉnh thể thống nhất về quan điểm và hành động. Công tác tư tưởng, học tập và thực hành theo Bác, xây dựng đội ngũ cán bộ tạo nền tảng chính trị, tinh thần, đạo đức, sức chiến đấu. Phát triển vùng, du lịch, công tác người Việt Nam ở nước ngoài mở rộng không gian, khơi thông, kết nối nguồn lực. Tất cả cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống Nhân dân.
Hội nghị hôm nay không chỉ là quán triệt, mà mở ra giai đoạn quyết định là tổ chức thực hiện. Không được coi học nghị quyết là thủ tục, nghe xong, ban hành kế hoạch là hoàn thành. Giá trị văn kiện phải thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn, tạo chuyển biến mà Nhân dân cảm nhận được. Từng cấp ủy, cơ quan, địa phương, từng đảng viên phải rõ việc, rõ người, rõ thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm, trách nhiệm; chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả.
Trên tinh thần đó, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị thực hiện tốt 5 yêu cầu trọng tâm.
Thứ nhất, thống nhất nhận thức, nắm vững điểm mới và mối quan hệ hữu cơ giữa 6 văn kiện; quán triệt đúng từng văn kiện, kết nối đúng, tổ chức thực hiện đồng bộ, tạo sức mạnh tổng hợp, thống nhất.
Thứ hai, đồng thời hoàn thiện thể chế, phân định thẩm quyền, bảo đảm nguồn lực và quản trị rủi ro; không giao việc trước rồi sau đó mới đi tìm điều kiện thực hiện.
Thứ ba, tạo chuyển biến thực chất về công tác cán bộ, tinh thần tiên phong, trách nhiệm nêu gương và văn hóa thực thi; coi đây là khâu quyết định đưa nghị quyết, chỉ thị vào cuộc sống.
Thứ tư, tổ chức lại không gian và nguồn lực phát triển theo lợi ích tổng thể quốc gia; gắn phát triển vùng, phát triển du lịch với phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài.
Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng và truyền thông chính sách; siết chặt kỷ luật thực thi; lấy dữ liệu, sản phẩm, chuyển biến thực tế và sự hài lòng của Nhân dân làm căn cứ đánh giá.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết cả 6 văn kiện cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ tiên phong, gương mẫu, dám chịu trách nhiệm; quản trị thông suốt; tổ chức lại không gian phát triển; đưa du lịch thành động lực tăng trưởng, phát huy mọi nguồn lực dân tộc.
Ngay sau Hội nghị các cấp ủy, cơ quan, địa phương, người đứng đầu phải xác định nhiệm vụ trọng tâm; giao đúng người, đủ thẩm quyền, nguồn lực; rõ sản phẩm, tiến độ, trách nhiệm. Việc đã rõ phải làm ngay; thuộc thẩm quyền phải quyết định; vượt thẩm quyền phải báo cáo cùng phương án xử lý. Cả 6 văn kiện đã rõ chủ trương, mục tiêu; điều quyết định là tổ chức thực hiện và trách nhiệm người đứng đầu. Mỗi văn kiện phải thành việc cụ thể, có người chịu trách nhiệm, được kiểm chứng bằng kết quả; cuối cùng phải làm đất nước mạnh hơn, Nhân dân sống tốt hơn, niềm tin vững chắc hơn.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tinh thần tiên phong của cán bộ và sức sáng tạo của Nhân dân, 6 văn kiện nhất định đi vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TẠI ĐIỂM CẦU CỤC SỞ HỮU TRÍ TUỆ


Đảng bộ Cục Sở hữu trí tuệ
Tin mới nhất
Các tin khác
- Cục Sở hữu trí tuệ phối hợp với Đại học Bách khoa Hà Nội tháo gỡ vướng mắc trong thương mại hóa và định giá tài sản trí tuệ
- Chuỗi hoạt động khảo sát, tập huấn và tư vấn tại thành phố Đà Nẵng về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam ra nước ngoài
- Cục Sở hữu trí tuệ tổ chức lớp tập huấn hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương thi hành pháp luật Sở hữu trí tuệ
- Đẩy mạnh bảo hộ và khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực y dược
- Tăng hỗ trợ đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ từ cấp cơ sở